Cán bộ - Giảng viên Người học Tiện ích Tham quan trường 360

Đôi điều về “nghề nghiệp” trong ngành Công nghệ Thông tin

 

Ngành CNTT (IT- Informatic Technology) trong khoảng chục năm trở lại đây luôn là một trong những ngành “hot” nhất trong thị trường lao động Việt Nam và thế giới. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang bắt đầu bùng nổ, ngành IT càng trở nên nóng hơn bao giờ hết.

Bài viết nhằm chia sẻ một số nhận định cá nhân về nghề nghiệp trong CNTT, cũng như dự đoán xu hướng các ngành nghề trong tương lai không xa và các kỹ năng, kiến thức cần thiết cho một vị trí tốt trong một số ngành “hot”. Nội dung bài viết chủ yếu chia sẻ nhận định chủ quan, trải nghiệm cá nhân của mình sau hơn mười năm làm trong ngành công nghệ thông tin. Trong quá trình làm việc, mình đã tham gia và làm đối tác của khá nhiều công ty lớn nhỏ trong và ngoài nước, chứng kiến nhiều sự thay đổi trong công nghệ, thị trường nhân sự, việc làm, cũng như cách thức tổ chức, vận hành, văn hoá doanh nghiệp của nhiều công ty, tổ chức trong ngành.

Điều đầu tiên cần nhấn mạnh là CNTT là một ngành rất rộng, công việc rất đa dạng và phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau. Có những việc lặp lại, ổn định, có thể học rất nhanh và không cần đào tạo bài bản (cài đặt máy móc, sửa chữa máy tính cơ bản, lắp đặt phòng máy, mạng, tư vấn sản phẩm, hỗ trợ kỹ thuật sản phẩm, hotline chăm sóc khách hàng…), và có những công việc cần đào tạo bài bản và/hoặc dài hạn hơn, và yêu cầu nhiều chất xám hơn nhiều hơn như lập trình viên, kiến trúc sư hệ thống, chuyên viên phân tích nghiệp vụ, kiểm thử viên, quản trị mạng, phân tích, xử lý dữ liệu… Bài viết này tập trung nói về nhóm ngành thứ hai.

Thách thức trong ngành CNTT

it challenges

Là ngành “hot” trong thị trường lao động, ngành CNTT thu hút số lượng lớn các sinh viên tham gia học.

Có thể thấy ngành CNTT là ngành có yêu cầu khá cao về cả thái độ, kiến thức, kỹ năng. Điều này bởi nhiều lý do:

  • Bản thân ngành CNTT là mới (so với rất nhiều ngành khác), lại rất rộng, yêu cầu nhiều kiến thức nền tảng nhưng lại được trang bị khá muộn trong các trường phổ thông.
  • Công nghệ phát triển chóng mặt, thay đổi liên tục, khiến người làm CNTT nếu không liên tục nghiên cứu, học hỏi, thích ứng thay đổi thì sẽ sớm bị đào thải nhanh chóng.
  • Mức độ cạnh tranh cao và không phân biệt tuổi tác. Do sự thay đổi hàng ngày của công nghệ, yếu tố kinh nghiệm trong CNTT thường mờ nhạt hơn rất nhiều so với các ngành khác. Một sinh viên giỏi mới ra trường làm 1–2 năm với công nghệ hiện đại có thể dễ dàng vượt qua cả về năng suất lẫn chất lượng công việc so với một người với hàng chục năm kinh nghiệm nếu không chịu cập nhật công nghệ thường xuyên. Phải nói thêm, việc “cập nhật công nghệ” ở đây là để làm việc, tức là học nghề để áp dụng vào công việc, chứ không phải đơn thuần là cập nhật tin tức về công nghệ qua báo chí, truyền hình một cách giải trí.

Nghề nào phù hợp?

Do tính cạnh tranh cao và không phân biệt tuổi tác như đề cập phía trên, ở Việt Nam, thường thấy hầu hết mọi người làm “kỹ thuật” trong ngàng CNTT thông thường chỉ làm khoảng chục năm hoặc ít hơn, sau đó chuyển hướng qua “quản lý” hay “kinh doanh“, một là vì không theo kịp thế hệ trẻ đi sau, cảm thấy mệt mỏi, hao mòn, hai là nếu không “thăng chức” sẽ bị coi là kém cỏi vì mãi chỉ làm kỹ thuật. Nhưng dù làm kỹ thuật, quản lý, kinh doanh… đều là các “nghề” khác nhau, yêu cầu các kỹ năng khác nhau và phù hợp với từng cá nhân khác nhau. Tiếp xúc với các công ty nước ngoài sẽ thấy điều này rất rõ, làm lập trình viên, hay làm quản lý dự án đều là các nghề, và người ta sẽ làm mãi nghề đó nếu thấy còn phù hợp với bản thân, cả về sở thích, năng lực lẫn thu nhập. Làm quản lý không có nghĩa là thu nhập tốt hơn, hay có địa vị cao hơn, nó chỉ là công việc với tính chất khác. 

Một điều muốn nhấn mạnh ở đây là chọn nghề không nên quá theo đuổi xu hướng, mà quan trọng hơn là: trong những xu hướng đó, lựa chọn công việc phù hợp với mình. Vậy những ai phù hợp với CNTT? Đa phần những người phù hợp với CNTT là những người:

  • Thích công nghệ. Dấu hiệu: thích đồ mua, đọc đánh giá, ngắm nghía các đồ công nghệ, thích chơi game, hay tìm tòi, thử nghiệm các tính năng phần mềm, trang web…
  • Tư duy logic tốt và thích logic chặt chẽ. Dấu hiệu: thích học toán, thích lập trình (thích hơn học toán), thích các trò chơi logic, các bài test IQ…
  • Thích thử thách. Dấu hiệu: tự vào các trang mạng giải toán, giải bài các bài lập trình, thích chế độ thi đấu trực tuyến, chơi các trò chơi trí tuệ….
  • Cầu toàn. Dấu hiệu: Luôn không ưng ý với những gì đang có, luôn muốn nâng cấp, sửa đổi từ những thứ nhỏ nhất.

Một số việc làm có nhu cầu cao trong ngành công nghệ

Trong số đó một số nghề mới trở nên phổ biến gần đây, cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, và chắc chắn sẽ vẫn là các nghề hot trong một thời gian tới như Data Scientist, AI/ML Engineer, Business Intelligence Analyst…

Một số việc khác có thể sẽ thành “hot trend” trong tương lại không xa có thể kể đến như: kỹ sư vạn vật kết nối (IoT Engineer); kỹ sư nhà thông minh (Smart Home Engineer); kỹ sư xe tự lái, xe bay, robot; kỹ sư công nghệ xử lý rác thải, nước thải; kỹ sư thực tế ảo…

Thế hệ trẻ cần chuẩn bị gì để bước vào ngành CNTT trong tương lai

  • Làm quen, sử dụng các phần mềm máy tính (không phải game) càng nhiều càng tốt: Paint, Word, Powerpoint, Excel, Windows, Photoshop, Illustrator, Algodoo… (từ Tiểu học)
  • Tiếp xúc, học càng nhiều càng tốt các khoá học STEM (online hoặc offline): lập trình, thuật toán robotics, sáng tạo công nghệ… (từ Tiểu học)
  • Học chắc chắn các môn toán, và tiếp xúc, học nhiều về các môn toán đặc biệt cần thiết cho ngành khoa học máy tính. Ở Tiểu học và THCS: các môn toán trong trường phổ thông, logic, đồ thị (graph), tập hợp, toán tổ hợp, xác suất… Ở các cấp cao hơn: toán rời rạc, xác suất, thống kê, đại số tuyến tính, giải thích hàm nhiều biến…
  • Tiếp xúc với lập trình thuật toánlập trình ứng dụng càng nhiều càng tốt.
  • Tham gia làm sản phẩm công nghệ thông tin (phần mềm, website, sản phẩm công nghệ…) trong các cuộc thi sáng tạo, tin học trẻ…, và tự làm các sản phẩm công nghệ, phần mềm phục vụ chính nhu cầu của mình và những người xung quanh.
  • Tham gia, tương tác trên các cộng đồng công nghệ, lập trình trực tuyến

Bài viết gốc được đăng tải tại ucode.vn

Hashtag:
Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai